Họ Phan là một thành viên lâu đời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, đã có mặt hàng ngàn năm với bao thăng trầm biến động. Cùng với trăm họ, tộc Phan đã góp công khai sơn phá thạch, mở rộng đất đai, chống lại ngoại xâm, phát huy và gìn giữ những truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa văn hoá của dân tộc, giống nòi.
Các tài liệu cổ sử cũng như các truyền thuyết, tổ tiên các tộc Việt có từ cách đây khoảng gần ba ngàn năm. Họ Phan xuất hiện trên đất nước Việt Nam ngay từ thời Kinh Dương Vương với ông Phan Ðô và vào thời Vua Hùng thứ 18 với ông Phan Tây Nhạc đại vương, đều gốc ở Ái Châu (Thanh Hóa).Theo truyền thuyết vào đầu đời Nhà Chu (1066 TCN) tại một bộ tộc phía nam sông Trường Giang (Dương Tử Giang) gần hồ Phiên Dương, vùng đất Việt Thường thuộc Dương Việt (Giang Tây) có người tù trưởng giỏi nghề cấy lúa, biết lợi dụng sông ngòi, lấy nước vào ruộng, tránh được nạn hạn hán làm cho mùa màng tươi tốt, nhân dân no đủ, ai cũng mến phục. Nghe tin, vua Chu bèn mời người đó về triều giúp đỡ nhân dân cách dẫn nước vào ruộng cấy lúa nước, dần dần nhân dân sung túc, thiên hạ thái bình. Ðể đền ơn, vua Chu ban cho được hưởng ruộng lộc tức là thái điền ở bộ tộc đó và đặt tên họ ghép hai chữ thái điền với ba chấm thủy đọc là chữ "Phan". Họ Phan bắt đầu ra đời từ đấy. Người tù trưởng đó là Tất Công họ Phan, bộ tộc Phan.
Lúc nhà Chu mới lên ngôi, Việt Thường còn quan hệ hữu nghị, nhưng về sau khi ý thức xâm lược phát triển về phía Nam, một số người Việt trong đó có bộ phận người họ Phan theo đường biển di chuyển về phía Nam, vào vùng Ái Châu (Thanh Hóa) sinh cơ lập nghiệp, có thể ra đi cùng lúc với vua Kinh Dương Vương từ đất Việt Thường dời vào Ngàn Hồng (núi Hồng Lĩnh) ở Cửa Hội (Châu Hoan). Con cháu họ Phan về sau phát triển, tỏa đi khắp mọi nơi. Hiện nay, tại nhà thờ họ Phan Vân ở thị trấn Yên Thành (Nghệ An) còn đôi câu đối ghi nhận truyền thuyết nói trên như sau: " Thế phổ thái điền truyền Bắc địa - Tướng môn lệnh trụ chấn Nam thiên".Tạm dịch: Dòng dõi Thái điền truyền đất Bắc - Tướng môn mũ trụ dậy trời Nam. Và câu: “ Thái điền thỉ tự Tất công, phương lưu thống phổ - Tùng nhạc giáng vi Sùng quản, âm dụ cao môn”.Tạm dịch: Thái từ tổ Tất công, tiếng thơm đời truyền mãi- Tùng nhạc đến đời Sùng quản, ơn nặng cửa cao sang.
Ðất nước Văn Lang, vào thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18, vào khoảng 258 TCN), có ông Phan Tây Nhạc là một vị tướng có công lớn đánh giặc giữ nước đã được lưu lại trong ngọc phả, thần tích hiện nay ở xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội có đền thờ tại đình làng Thị Cấm và đình làng Hoè Thị. Ông Phan Tây Nhạc, tổ tiên họ Phan là người Hà Trung, Châu Ái (Thanh Hóa) nhà giàu có, của cải sung túc nhưng cha mẹ ông đến ngoài 40 tuổi mà chưa có con nên chăm lo làm điều nhân nghĩa, chia phát tiền gạo cứu giúp người nghèo và chăm đi cầu tự các nơi đình đền chùa miếu. Một hôm, bà mẹ ông nhân một hôm nằm mộng thấy một vị thần xuất hiện và truyền lệnh: Vợ chồng nhà ngươi là người lương thiện hiền lành, có âm đức, ta sẽ cho một thằng bé xinh xắn để làm rạng rỡ tổ tông, phát huy danh tiếng trong thiên hạ. Bà tỉnh mộng, sau đó có thai sinh ra một trai, thân thể mập mạp béo trắng, mặt vuông tai lớn, đặt tên là Nhạc. Cậu bé lớn lên có tài năng sức mạnh hơn người, văn chương võ nghệ toàn diện, lại tinh thông các phép lục giáp, thần phù, không ai sánh nổi.
Nghe nói núi Tản Viên là nơi trời đất sắp đặt, cảnh vật huyền diệu thiêng liêng, u tĩnh khôn lường, ở đó có Tản Viên Sơn Thánh có gậy tiên, sách thần và phép thuật biến hóa vô cùng, Phan Tây Nhạc bèn tìm đến tận nơi xin gặp. Khi vào bái yết Sơn Thánh, Sơn Thánh nghe lời nói hiền từ, ngắm diện mạo anh hùng, hỏi tên tuổi, bèn giao cho cậu giữ gìn mục lục của các vị Thánh Cơ, chức vụ gọi là Cơ Mục Phan Quan. Tình cảm ngày một khăng khít, Phan Quan luôn ở bên cạnh Sơn Thánh.
Bấy giờ vua Hùng Duệ Vương có 20 hoàng tử nhưng đều chết cả, không có người nối ngôi, chỉ có hai người con gái rất đẹp. Công chúa lớn là Tiên Dung, công chúa thứ hai là Ngọc Hoa; Tiên Dung lấy Chử Ðồng Tử, còn Ngọc Hoa chưa lấy ai. Ðức vua mở lầu kén rể, yết bảng cầu hiền, nhằm kén người tài đức để truyền ngôi.Từ đó thuyền bè tấp nập, ngựa xe kéo đến chật đường, anh hùng tuấn kiệt đến cầu hôn rất đông, nhưng không ai vừa ý. Sơn Thánh hay tin bèn triệu Phan Quan cùng đi đến trước lầu Bạch Hạc bái yết nhà vua. Qua thử thách, Sơn Thánh có phép thuật mầu nhiệm, tay chỉ gậy thần trúc, miệng niệm thần chú, lập tức có đủ cả voi chín ngà, ngựa chín hồng mao và mọi thứ quý lạ dâng lên vua. Nhà vua đồng ý gả Ngọc Hoa cho. Còn Phan Quan, nhà vua thấy là người anh tài đặc biệt, phong độ hiên ngang bèn truyền tuyển ba người con gái có nhan sắc đẹp trong số hơn trăm người cháu ngoại của hoàng hậu đem gả, rồi cho rước về động Lăng Sương.
Bấy giờ thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự. Sơn Thánh cùng Phan Ông ngao du sơn thủy, lúc dong thuyền lơ lửng bến sông, lúc non cao rẽ lối, phàm nơi đi, đến, dừng xe lại nghỉ, đều lập hành cung. Trên đường qua xã Phương Canh (nay là Hương Canh, xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm), Sơn Thánh thấy nhân dân phong tục thuần hậu, nhà nhà đầy đủ, cấy cày được mùa, thóc lúa dồi dào, bèn lập một toà Tây Hành cung, lưu Phan Ông đón ba công chúa đến cùng ở đấy, để thăm hỏi vỗ về nhân dân, khuyên dạy canh tác. Phan Ông tính tình điềm đạm vui vẻ với dân, dạy bảo lễ nghi, sửa sang phong tục, mọi người kính yêu tôn gọi là Phan Ông Tây Nhạc.
Thuở ấy, vua Hùng Duệ Vương không có con nối ngôi, buồn bã say đắm tửu sắc, việc võ bị không chăm nom gì đến việc đề phòng giữ nước.Vua Thục thừa cơ kéo đại binh gồm 30 vạn quân sang đánh, chia làm ba ngả tiến vào. Vua Hùng cùng các quan bàn bạc, triệu Sơn Thánh đến hỏi kế. Sơn Thánh tâu rằng: Họ Hồng Bàng từ khi có thiên hạ đến nay đã hơn hai ngàn năm, thánh hiền nối nhau trị nước, ơn sâu đức dày thấm nhuần đã lâu, nước giàu quân mạnh đã từng, vậy mà Thục Vương chẳng biết giữ mình, dám điên cuồng gây sự xâm lăng, cơ chuốc bại trước mắt đã nghiệm rõ ràng, thần tôi đây xin ra sức giúp nhà vua, xin cho thần được chọn tướng tài và được tùy cơ ứng biến, như vậy ắt giữ gìn được nước. Nhà vua trao ấn kiếm cho Sơn Thánh và phán rằng: Mọi việc khó khăn ở bên ngoài đều do quyền nhà ngươi tự liệu. Sơn Thánh vâng lệnh, lạy tạ rồi tiến cử Phan Ông là người dũng mãnh, có thể đảm đương mọi mặt. Nhà vua phong cho Phan Ông làm Nhạc Tướng Quân, giao cho cầm 3 vạn quân sĩ đi tiên phong. Nhạc tướng quân vâng lệnh. Ngày hôm đó, ngài khao thưởng quân sĩ và nhân dân, rồi cho tiến thẳng lên châu Minh Linh, hai bà Tả công chúa và Hữu công chúa cùng đi theo đánh giặc, còn bà Hoa Dung công chúa ở lại giữ Tây Hành Cung.
Sơn Thánh đốc xuất 10 vạn tinh binh, chia đường thủy bộ tiến đánh Châu Hoan, Châu Quỳnh Nhai Sơn, cùng bản bộ của Tây Nhạc tướng quân 4 mặt tiến đánh rất mạnh. Quân Thục đông, nhưng không chống đỡ nổi, dày xéo lên nhau, thây chất thành núi, không còn một cỗ xe trốn thoát. Sơn Thánh dâng biểu báo tiệp. Nhà vua mở hội khao thưởng quân sĩ, xét công ban thưởng, tôn phong Sơn Thánh làm nhạc phu, phong cho Phan Ông làm Tây Nhạc Ðại Vương, gia phong Tả công chúa làm Tả Phi Nhân, Hữu công chúa làm Hữu hoàng hậu. Còn các người khác đều khen thưởng xứng đáng theo công trạng. Vua tôi, vợ chồng, trăm họ thái bình, vui vẻ phụng thờ xã tắc.
Thế nhưng, được 3 năm thì vua Thục lại cầu viện thêm quân, đến tháng giêng âm lịch lại vào xâm lấn. Sơn Thánh lại xuất quân, tướng sĩ đi đánh, thế mạnh như chẻ tre. Quân Thục đại bại, phải viết thư cầu hòa. Sơn Thánh tâu lên nhà vua rằng: Thục Vương ngày trước xin đánh, ngày nay xin hòa, thế là biết người, biết ta, biết tiến biết lui, biết uy của nhà vua, vả lại, Thục Vương trước là con cháu bộ tộc Ai Lao vốn cũng dòng dõi họ Hùng, xin nhà vua hãy nhường ngôi cho Thục Vương. Kẻ hạ thần có phép biến hóa thần tiên, xin nhà vua hãy cùng hạ thần dong chơi non xanh nước biếc, sinh sinh hóa hóa bất tuyệt, không nên vương vấn mãi cõi bụi trần làm gì!
Nhà vua nghe lời của Sơn Thánh, nhường ngôi cho Thục Vương. Thục Vương lên ngôi giữ lời thề, sửa sang đền miếu thờ cúng liệt thánh họ Hùng, nhằm báo đền ân đức. Các công thần, bề tôi cũ của họ Hùng đều được gia phong Phúc thần, và cho các xã xưa kia các ông đã ở lập đền thờ, đồng thời ra sức giữ nước. Trải bốn triều Ðinh, Lê, Lý, Trần đều ban phong sắc mệnh: Phan Tây Nhạc Ðại Vương, Hộ quốc cứu dân, muôn đời huyết thực, hương hỏa bất tuyệt. Phan Tây Nhạc sinh ngày 12-2 âm lịch, mất ngày 1 tháng chạp âm lịch. Hiện nay xã Hương Canh, hai thôn Thị Cấm và Hoè Thị đều có đền thờ ngài.
HỌ PHAN THỜI BẮC THUỘC
Với kinh nghiệm truyền thống về sản xuất cấy lúa nước, họ Phan đã cùng nhân dân từ Châu Ái chuyển ra khai hoang khẩn đất ở những vùng đất nhiễm mặn, vùng biển đã rút nhưng vẫn còn hoang vu, cây cỏ rậm rạp, ở vùng đất Nam Ðịnh Hải Dương, hoặc từ Hương Canh khai thác vùng đất phù sa bồi, quanh lưu vực sông Hồng, nhân dân phát triển càng ngày cư tụ càng đông. Nhưng từ năm 111 TCN, Nhà Hán sang sâm chiếm nước ta, áp bức bóc lột nặng nề, các quan cai trị địa phương vơ vét đủ mọi thứ tài sản quý hiếm như ngà voi, sừng tê giác, lông chim trả, đồi mồi, ngọc trai... khiến cho cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng nổi lên vào năm 40-43 SCN. Ở Nam Ðịnh có hai anh em Phan Cung, Phan Lượng, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa, cùng nhân dân nổi lên đánh đổ ách thống trị, giành chính quyền địa phương cho nhân dân. Trong 3 năm, nhân dân được tự do làm ăn, nhưng năm 43, tướng nhà Hán là Mã Viện lại kéo quân sang đánh. Đại quân của Hai Bà thất bại ở hồ Lãng Bạc, lúc Mã Viện kéo quân vào phía Nam, hai ông tướng họ Phan chống trả quyết liệt, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng và đã hy sinh trên mảnh đất Nam Ðịnh. Thương tiếc, nhân dân đã lập đền thờ để hương khói ở làng Vĩnh Tường (Nam Ðịnh).
Ðời Ðông Ngô (222-280) Tam Quốc, ở quận Cửu Chân (Thanh Hóa) có người họ Phan tên là Phan Miêu, nhân người anh là Phan Hâm là Công tào bị Thái thú quận Cửu Chân là Ðam Manh giết chết, bèn cùng nhân dân tổ chức khởi nghĩa, giết chết tên Thái thú, giành lấy chính quyền. Đây là một cuộ
c khởi nghĩa lớn đến nỗi Thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp kéo quân từ Bắc Bộ vào cũng không đánh nổi, phải rút quân về. Mãi về sau (khoảng năm 231), Thứ sử Giao Châu là Lữ Ðại từ Phiên Ngung kéo đại quân vào đánh, mới dẹp được .
Thời kỳ Bắc thuộc, do sự áp bức bóc lột nặng nề, đời sống nhân dân cực khổ, nhiều người phải phiêu cư bạt quán, họ Phan cũng có nhiều người di cư khẩn đất ở các vùng Hải Dương, Hà Bắc, Sơn Tây, Vĩnh Phú, Nghệ An và nhiều nơi khác. Thời kỳ này cũng là lúc mà nhiều người từ phương Bắc di chuyển sang, gồm có gia đình thân thích, bạn bè quan lại, binh lính, tù nhân, những dân nghèo di dân khẩn thực, người càng ngày càng đông, đời sống càng ngày càng khó khăn cơ cực.
HỌ PHAN THỜI KÌ NƯỚC NHÀ GIÀNH QUYỀN ĐỘC LẬP
A - TỪ NHÀ NGÔ ĐẾN LÝ, TRẦN, HỒ VÀ CHỐNG GIẶC MINH
Nước nhà giành quyền độc lập chưa được bao lâu, thì cuối đời nhà Ngô lại xảy loạn 12 sứ quân. Các hào trưởng, triều quan tranh giành nhau quyền lực, chia cắt đất đai, đánh nhau liên miên, đời sống nhân dân lại bị xáo trộn cho đến vua Ðinh Tiên Hoàng mới dẹp yên được. Nhưng đến đời Tiền Lê, vua Lê Ðại Hành mất, các hoàng tử tranh ngôi nhau. Lê Long Ngân sau khi đánh Lê Ngọa Triều bị thất bại bèn chạy vào Cẩm Thủy (Thanh Hóa) rồi lại chạy vào Châu Diễn kéo theo một số người Kinh, xưng đế đóng đô ở Kẻ Dền (xã Vân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An), rồi lại bị vua Lý Thái Tổ kéo quân vào đánh giết hại nhiều người, Lê Long Ngân phải chạy vào Chiêm Thành, nhưng đến Thạch Hà thì bị giết.
Chiêm Thành từ trước tới đây luôn luôn quấy phá phía nam, đã chiếm đóng từ cửa Nam Giới (tức Cửa Sót phía nam núi Hùng Lĩnh, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh, trở vào; vua Lý Thái Tôn bèn nhập Châu Hoan và Châu Diễn làm Châu Nghệ An (1030), bình định những sự chống đối của bọn quấy phá rồi cử người em là Uy Nam hầu Lý Nhật Quang, con thứ 7 vua Lý Thái Tổ vào làm Tri Châu và đóng châu lỵ ở Kẻ Mưỡu (Bạch Ðường, Anh Sơn, Nghệ An) với chủ trương tăng cường lực lượng về người và của ở biên giới phía nam. Vùng Hoan Diễn hồi này đa số là người Mường và người thiểu số, còn quen tập tục đốt rừng làm rẫy ở các vùng rừng núi, bán sơn địa. Với chủ trương trên, Uy Nam hầu đã chuyển hàng loạt người Kinh từ phía bắc vào khai thác các vùng đồng do biển rút, bị nhiễm mặn, cỏ lác, hoang dã, hoặc các vùng đất phù sa hai bên dòng sông Cả, sông La, để làm ruộng cấy lúa nước. Người Kinh vào ngày càng đông, trong đó có họ Phan cùng các họ khác lập thành thôn ấp mà người Mường gọi là "kẻ" với tên Việt cổ kèm theo. Cũng có lúc họ Phan trong dòng họ anh em vào khai thác lập thành thôn xóm với danh từ Phan Xá, Phan thôn như ở Ngô Trường, huyện Châu Lộc, ở tổng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc, tổng Phan Xá huyện Nghi Xuân mà mãi về sau tên này còn giữ đến triều Lê, hoặc ở các vùng đồng bằng gần biển như vùng Diễn Châu Ðông Thành, vùng Thiên Lộc Thạch Hà, dòng họ Phan cũng có nhiều người cùng nhiều họ khác vào khai canh lập ấp. Thỉ tổ khai canh không ghi rõ, nhưng con cháu về sau, nhiều dòng họ Phan, tộc phả cũng nói rõ tổ tiên xuất phát từ các vùng nói trên. Ở phía Bắc, các triều Vua Lý cũng khuyến khích phát triển nông nghiệp, họ Phan cũng có người di chuyển xuống khai phá vùng biển tỉnh Thái Bình, hoặc lên vùng Phan Lương huyện Lập Thạch, phủ Tam Ðới tỉnh Sơn Tây, ra Hải Dương, lên Hà Bắc hoặc nhiều tỉnh khác.
Ðời Lý, họ Phan thấy xuất hiện Thiền sư Phan Trường Nguyên, một nhà tu hành ở làng Trường Nguyên, huyện Tiên Du, Hà Bắc là một người hay chữ có tiếng, vua Lý Anh Tông triệu về giúp việc, nhưng ông đã từ chối, lánh mình ở ẩn và dời lên tu tại chùa Sóc Thiên Vương (huyện Sóc Sơn, Hà Nội ngày nay). Ông mất vào lúc 56 tuổi tại chùa Sóc thiên vương (1110-1165) . Vào cuối đời Lý có ông Phan Lân ở Thái Bình, ông Phan Thế ở Phù Lạc, ông Phan Cụ ở Cam Giá, Sơn Tây đã hết sức phò tá vương triều Lý. Ông Phan Lân (...-1218) người vùng huyện Hưng Nhân tỉnh Thái Bình đã có công giúp đỡ vua Lý Huệ Tông lúc còn là hoàng tử Sảm, chạy tránh nạn ở kinh thành, về vùng Hải ấp (Thái Bình) rồi sau Trần Thị, con Trần Lý, ông đã giúp Trần Tự Khánh giúp đỡ vua Lý đánh dẹp những thế lực chống đối, sau đó bảo vệ vua Lý lên ngôi năm 1210 tức Lý Huệ Tông và tiếp tục đưa Trần Thị về triều tháng 2-1211 được phong làm Nguyên phi. Sau khi tình hình ổn định, ông được phong là Thượng tướng quân, có công xây dựng lực lượng quân đội cho vua Lý sau nhiều năm tan tác. Ông Phan Cụ làm tướng quân Cam Giá (tức kẻ Mía, tỉnh Sơn Tây) có công phò tá vương triều Lý, chống lại họ Trần có âm mưu thoán đoạt, bị họ Trần bắt đưa về giữ tại Mỹ Lộc (Nam Ðịnh). Về sau, năm 1220, có giặc thiểu số là Hà Cao nổi lên ở Tuyên Quang, ông tình nguyện đi đánh, nhưng lúc lâm trận ông bị sa đầm lầy nên bị giặc bắt giết chết, rồi Hà Cao cũng bị các tướng họ Trần đánh tan. Ông Phan Cụ có công với nước nên được vua Lý Huệ Tông truy phong là Minh Tín Vương.
Ðến triều Trần, họ Phan có ông Phan Hách ở Thu Hoạch huyện Thiên Lộc tỉnh Hà Tĩnh hay chữ gốc từ Thanh Hóa vào, đã từng giúp vua triều Trần làm Vương triều phó sư (dạy Thái tử ). Cuối triều Trần có ông Phan Nghĩa làm tu sử, Lang trung bộ lễ đời Trần Nghệ Tông cũng là thầy học dạy vua Trần Phế Ðế (tức Trần Ðế Hiện), có làm tập Bảo Hòa di bút 8 quyển do Trạng nguyên Ðào Sư Tích đề tựa để dạy vua (tập này sau bị nhà Minh chiếm lấy mất).
Nhà thờ họ Phan Tùng Mai thờ Trần triều Vương Phó sư Phan Hách ở Đức Thọ
Ông Phan Nghĩa có liên kết với Thái uý Ngạc định trừ Hồ Quý Ly, nhưng âm mưu bị bại lộ bị Hồ Quý Ly giết, kể cả vua và Thái uý Ngạc vào năm 1389. Sau đó lúc Hồ Quý Ly dời đô vào Tây Gia (Thanh Hóa) lại giết vua Trần Thuận Tông (1399) mượn cách lập Thái tử án mới 3 tuổi để cướp ngôi, thì xảy ra vụ mưu sát Hồ Quý Ly tại nhà Trần Khát Chân trong hội thề Ðốn sơn. Mưu bị lộ, Hồ Quý Ly giết triều quan 370 người, trong đó có nhiều người họ Phan phải đi lánh nạn.
Thời vua Trần Anh Tông sau khi gả em là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân năm 1306 để đổi lấy hai châu Ô, Rý, thì có chủ trương của vua Trần khuyến khích người Việt vào vùng này để khai hoang, khẩn đất. Người Việt trong đó có cả người họ Phan cũng vào khai thác vùng đất mới này, ví như dòng họ Phan ở Ðà Sơn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1407 lúc nhà Minh đánh bại họ Hồ, chiếm đất nước ta thì trả lại 4 châu cho vua Chiêm là Ba Ðích Lại. Cư dân người Việt đã chuyển vào lại gặp khó khăn, do sự trấn áp của vua Chiêm, nhiều người phải chạy ra vùng Ô Lý (Thuận Hóa) theo Ðặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Năm 1408 Ðặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân lại theo cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần đánh quân Minh chiếm lại đất từ châu Ô Lý trở ra Nghệ An, rồi tiếp tục tiến ra Bắc. Cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần kéo dài mãi đến năm 1414 mới chấm dứt. Cuộc sống nhân dân luôn luôn bị xáo trộn. Năm 1425, sau khi đánh vây giặc Minh ở thành Nghệ An, vua Lê Lợi cử tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Nổ vào giải phóng đất Tân Bình, Thuận Hoá, đời sống mới yên.
Trong thời Lý Trần, việc đưa nhân dân miền Thanh Nghệ vào càng nhiều, những người Việt vào ở xen lẫn với người Chiêm, áp dụng lối cày hai trâu, vùng đồng cao làm nông trang, vùng biển làm nghề muối, tiếng nói cùng Hoan Châu (Nghệ An) giống nhau, nói tiếng Chiêm thì thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm thì con gái làng Thuỷ Bạn. Họ Phan cũng đã vào khai phá lập thành xã gọi là xã Phan Xá ở huyện Minh Linh (châu Ma Linh) là một xã nho phong văn vật, chắc chắn con cháu dòng họ Phan ở đây về sau cũng di chuyển tỏa ra nhiều địa hạt khác, mà sổ sách phổ liệu chưa được ghi chép. Cuối thời Trần, sang nhà Hồ đến lúc nước ta chống đánh quân Minh, trên sử sách, họ Phan cũng thấy xuất hiện nhiều tướng lĩnh ghi tên:
- Phan Mãnh người Thổ Ri, có công đón đánh quân Chiêm, bảo vệ được cho nhân dân, vua Trần Thuận Tông ban thưởng rất nhiều, làm quan đến Dực vệ, Thăng Minh Uy tướng quân, coi quân Thánh dực, hai hạt Tân Bình và Thuận Hóa, được thưởng kim vân phù. Bấy giờ, ông cùng Chu Bình Khuê ngầm mưu trừ bỏ Hồ Quý Ly, bàn tán về việc chuyên quyền của Hồ Quý Ly bị Quý Ly ghép với tội tiềm mưu bất chấp pháp giết đi (1391).
- Năm 1407, lúc quân Minh tiến quân xuống vùng Thái Bình, ông Phan Hòa Phủ làm Trấn phủ Kiến Xương lo chuẩn bị chống đánh. Lúc quận Hồ thua, rút về Muộn Hải (Giao Thủy, Nam Ðịnh) thì ông bị bọn quan lại phản quốc như Trần Nguyên Chi, Trần Sư Hiền, Nguyễn Nhật Kiên người huyện Kiến Hưng nổi lên giết chết, rồi đầu hàng quân Minh. Trong cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần, đại quân của vua Trần do Ðặng Dung chỉ huy đóng ở cửa Hàm Tử (Hưng Yên) đã chống đánh quân Minh ngày 21 tháng 8 năm Kỷ Sửu (29-9-1409) Trong một trận thủy chiến diễn ra ác liệt, 600 chiến thuyền của quân Trần đóng ở bờ phía Nam với 2 vạn quân, nhưng bị gió bắc, thủy quân của địch do Trương Phụ chỉ huy lợi thế đánh vào, quân Trần chống trả quyết liệt, 3000 người bị chết, 400 thuyền bị mất, tướng Phan Ðê và 200 quân bị bắt. Năm 1413, sau khi thất thủ Hóa Châu, nghĩa binh của Trần Quý Khoáng (Hậu Trần) dưới sự chỉ huy của Ðặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị rút ra Thuận Châu. Sau khi bị chết hụt do Ðặng Dung không nhận ra mặt vào ban đêm, Trương Phụ vội nhảy sang thuyền khác, hôm sau cùng Mộc Thạnh tập trung quân đánh vào quân Trần. Nghĩa quân thua, tướng Nguyễn Sơn tử trận, 700 nghĩa quân bị bắt cùng nhiều tướng của quân Trần trong đó có Phan Kính, Phan Lỗ, Phan Cầu.
Nhà Minh đặt ách thống trị trên đất nước ta, nhưng năm 1417 ở Thuận Hoá, tại Thuận Châu (Quảng Trị) có Lê Hạch, Phan Cường cùng với một số ngụy quan khác đồng thời nổi dậy chống lại quân Minh, đốt phá thành trại, bắn giết bọn quan lại. Tháng 7-1417 Lý Bân phải sai Chu Quảng điều động binh các vệ Trung và Hữu ở Giao Châu, vệ Thanh Hóa, vệ Tần Bình vào đàn áp, trận chiến đấu quyết liệt xảy ra, Lê Hạch bị tử trận, Phan Cường và nhiều tướng lĩnh khác bị bắt và bị giết.
Năm 1419, Phan Liêu- con Phan Quý Hữu làm Tri phủ Nghệ An, trước đã hàng quân Minh, nhưng về sau không chịu nổi những sự sách nhiễu của tên nội quan Mã Kỳ (tướng Minh) nên đã cùng với Trần Ðài và một số ngụy quan khác, nổi lên đốt phá châu huyện, đem quân chống lại, bắt giết bọn quan lại nhà Minh. Phan Liêu đem quân tiến lên vây đánh quân chủ lực của nhà Minh ở thành Nghệ An (Rú Thành trên bờ sông Lam cách thành phố Vinh 3 km về phía tây nam) rất gấp. Tổng binh Lý Bân phải đem quân từ thành Ðông Quan (Hà Nội) vào cứu viện mới thắng được. Phan Liêu phải chạy sang Ai Lao, Lý Bân đuổi đến châu Ngọc Ma không kịp, phải quay binh lui về thành Nghệ An. Sau đó Phan Liêu cùng Lộ Văn Luật, một ngụy quan cũng chống giặc Minh ở Thạch Thất, Sơn Tây, bị thất bại chạy sang Ai Lao, hai người hợp lực nhờ người Lào giúp đỡ, đưa quân về đánh lại quân Minh ở Ngọc Ma, nhưng rồi cũng thất bại, phải trốn sang Lào. Năm 1425 hai người lại theo về Lê Lợi ở Nghệ An và được phái ra hoạt động ở vùng Gia Hưng Quốc Oai (Sơn Tây) để chiêu tập nghĩa binh và liên lạc với các hào kiệt ở ngoài Bắc, tạo điều kiện cho nghĩa quân của vua Lê tiến ra Bắc năm 1426 nhưng sau đó đều bị quân Minh bắt được .
B - TỪ NHÀ LÊ ĐẾN NHÀ NGUYỄN
Cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược đến năm 1418 là năm Lê Lợi khởi nghĩa ở đất Lam Sơn (Thanh Hóa) đã mở ra một giai đoạn mới. Sau 6 năm tiến đánh quân Minh ở Thanh Hóa, khi thắng, khi bại, nhưng không có thế mở rộng vùng giải phóng, phải quanh quẩn vùng núi rừng. Đến năm 1424, theo kế hoạch của tướng Nguyễn Chích, nghĩa quân vua Lê đã chuyển vào Nghệ An hoạt động. Nghĩa quân đã tiến đánh vây hãm thành Trà Lân. Ở Ðông Thành, ông Phan Vân đã giúp đỡ vua Lê giữ vùng núi phía đông. Quân Minh tiến lên đánh giải vây thành Trà Lân, vua Lê tập trung quân đánh đuổi quân Minh dọc sông Lam, tiến xuống vây thành Nghệ An. Chánh sứ Bái Dương hầu Phan Vân đã giúp Ðinh Lễ chiến thắng Diễn Châu, mở màn cho đại quân vua Lê tiến thẳng ra Bắc, chiến thắng quân Minh.
Thời kỳ tiếp đó, một số dòng họ từ Nghệ An lại vào khai phá ở vùng Tân Bình Thuận Hóa như các họ Nguyễn Văn, Nguyễn Tín, Phạm Văn và họ Phan vào thứ tư năm 1428 có ông Phan Chí Cực từ Nho Lâm, Lạc Mai, Diễn Châu vào khai phá lập dòng họ Phan ở Diên Sanh (huyện Hải Lăng, Quảng Trị), hoặc các ông Phan Bao, Phan Ngư, Phan Nội năm 1438 từ Hà Tĩnh cùng vào khai phá ở Thừa Thiên.
Ðời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) cũng rất quan tâm khai phá đất đai ở phía Bắc. Nhà vua đã tổ chức đắp đê Hồng Ðức suốt từ Hải Dương quá Thái Bình vào giáp Thanh Hóa dọc theo bờ biển để ngăn nước mặn làm ruộng. Những vùng đất trũng, cỏ lác hoang vu, cũng được khuyến khích khai thác. Năm Hồng Ðức thứ 26 (1-1495), một bộ phận họ Phan từ Thụy Khê Quảng Bá phía tây bắc Thăng Long vào khai thác ở xã Vân Hoàng (huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây) cách Hà Nội độ 40 km về phía nam và cùng họ Nguyễn nhập cư vào thôn Thượng (xã Vân Hoàng tổng Ðường Xuyên, huyện Phú Xuyên). Về phía đông, vùng gần biển họ Phan đến Trà Lũ, (huyện Giao Thủy Phủ Thiên Trường, Trấn Nam Hạ) lập ấp đầu tiên là thôn Ðông vào những năm đầu đời Hồng Ðức.
Ðầu thế kỷ thứ XVI, có 9 họ trong đó có họ Phan về vùng Cồn Ấp khai phá lập thành thôn xóm sau đổi là Quần Mông, rồi Quần Cường tức là xã Quần Anh, những họ này nguồn gốc từ các huyện Xuân Trường, Nam Trực, Nghĩa Hưng (Nam Ðịnh), Quần Anh sau này mở rộng thành 3 xã ở huyện Nam Chân phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam Hạ. Ở huyện Giao Thủy, tổng Hành Cung tức là Tổng Hành Thiện cũng có dòng họ Phan ở xã Phan Xá phải chăng là gốc tổ họ Phan khai thác ở xã Quần Anh. Ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, thời Lê Sơ có nhiều chi nhánh tỏa ra ở nhiều huyện: Ðông Thành, Thiên Lộc, La Sơn, Nghi Xuân, Thanh Chương, Nam Ðàn, Hưng Nguyên... nhưng đến thời Lê Trung Hưng do chiến tranh Lê Mạc, chiến tranh Trịnh Nguyễn, vùng này là bãi chiến trường, nhân dân nói chung, họ Phan nói riêng, phải bỏ đất, di cư tìm nơi khác để ở, nhiều người cũng di chuyển vào vùng đất phía nam.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào miền Nam lập nghiệp, đã tuyển mộ nhiều người từ Thanh - Nghệ -Tĩnh vào. Từ năm 1627 - 1672, họ Trịnh và họ Nguyễn đánh nhau đến bảy lần, phía nam Hà Tĩnh và bắc Quảng Bình là vùng chiến sự, nhân dân phải bỏ đất đi nơi khác. Cuộc chiến xảy ra ác liệt, điển hình như trận năm 1648, quân Trịnh thua, quân Nguyễn bắt được 3000 tù binh (có tài liệu nói 3 vạn) và 60 sĩ quan chỉ huy. Chúa Nguyễn chỉ trả 60 sĩ quan về Bắc, còn 3000 tù binh thì chuyển vào khai thác vùng Quy Ninh (Bình Ðịnh), cứ 50 người tổ chức thành một nhóm, cấp lương thực, trâu bò để khai khẩn lập làng xóm mới, lại khuyến khích nhà giàu cho họ vay làm vốn khai hoang. Từ đó, miền Thăng Ðiện vào đến Phú Yên xóm làng liền nhau.
Ðặc biệt là lần đánh thứ năm, quân Nguyễn đánh chiếm được 7 huyện phía nam sông Lam gồm Thanh Chương và 6 huyện tỉnh Hà Tĩnh từ 1655 đến 1660, việc bắt người vùng này vào khai thác phía Nam rất lớn, kết hợp với tù binh vào khai thác ở Bình Ðịnh, các huyện Tây Sơn, Tuy Phước, An Nhơn Tây Sơn là vùng An Khê mà tổ tiên Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cùng nguồn gốc ở Hưng Nguyên Nghệ An vào ở đó. Mặt khác từ năm 1608, nhiều năm dân Thanh Nghệ mất mùa đói to, mà đạo Quảng Nam (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh) lại được mùa lớn, dân nghèo tự động bỏ quê hương trốn vào vùng này làm ăn khá đông, trong đó có con cháu họ Phan. Từ sau cuộc chiến lần thứ 7 (1672), hai bên ngưng chiến lấy sông Gianh làm giới hạn, thì họ Nguyễn tập trung vào khai thác phía Nam. Những người Chăm từ xưa, thời nhà Lý và các triều Trần Lê, qua mỗi lần chiến tranh thất bại, họ bị bắt làm tù binh, một số đưa ra Bắc tổ chức đi khai khẩn đất hoang như thời vua Lý Thái Tông chuyển 5000 tù binh Chăm khai khẩn từ trấn Vĩnh Khang ( Tương Dương - Nghệ An) rải rác lên vùng Châu Ðặng ở Quy Hóa (Phú Thọ, Yên Bái). Hoặc có loại sau bổ sung làm điền nô cho các tướng lĩnh công thần làm điền trang, số người Chăm ở lại cũng được chuyển vào các vùng đất khai thác, ở lẫn với người Việt chuyển vào, dần dần thành người Việt với các họ: Chế, Ma, Ông v.v...
Ở Nam Bộ, chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 -1635) đã kết thân với vua Chân Lạp. Năm 1623 một sứ đoàn của Chúa Nguyễn gặp vua Chân Lạp yêu cầu cho người Việt được vào khai thác ở Mỗi Xoài vùng Bà Rịa và đã được vua Chân Lạp đồng ý. Thế là cư dân người Việt bắt đầu được chuyển vào khai thác vùng này, dần dần tiến lên vùng Biên Hòa, Gia Ðịnh. Những dân nghèo ở miền Trung và Nam Trung Bộ do chính sách chúa Nguyễn áp đặt quá nặng nề nên phải rời bỏ quê hương, dùng ghe bầu chạy trốn vào nơi xa xôi hẻo lánh làm ăn. Dòng di cư người Việt từ đó (sau 1623) vào Nam Bộ càng ngày càng đông, khai hoang phá rậm, lập thành thôn ấp lúc đầu từ Mỗi Xoài, Bà Rịa, tiến lên Biên Hòa, Gia Ðịnh rồi xuống Cần Ðước, Cần Giuộc.
Vùng Long An, Bến Tre cũng được người Việt vượt thuyền theo các cửa sông Cửu Long tới các giồng đất cao: Giồng Trôm, Ba Tri, Mỏ Cày. Chợ Lách, thị xã Bến Tre... rồi tiếp tục tiến lên tận Vàm Cỏ đông, Vàm Cỏ tây, Cái Yên, thị xã Tần An... đến nay con cháu còn truyền ghi tổ tiên vào đấy từ thế kỷ XVII. Cuộc làm ăn lập nghiệp cũng không phải dễ đàng, ngoài việc phát cây dọn cỏ, phá rừng đắp bờ giữ nước, còn phải chống với thú dữ: cọp, rắn, cá sấu, muỗi v.v... Ở Cai Lật (Mỹ Tho) phải lập miếu thờ ông "Cả Cọp", ở Hóc Môn còn dấu vết sau này còn gọi là cọp 18 thôn Vườn Trầu, mà tổ tiên dòng họ Phan Công Hớn đã vào đây khai phá còn nhắc lại. Một vùng đất hoang dã, không ai cai quản, người Việt qua bao đời đã đổ bao nhiêu mồ hôi nước mắt để lập nên thôn ấp, thậm chí có dòng họ như họ Phan Ðức ở Ðịnh Phước, Thủ Dầu Một từ Quảng Nam vào khai hoang phá rậm đã từng bị cọp bắt mất nhiều người, đến sau phải làm lễ cầu hồn siêu sinh tịnh độ.
Chúa Nguyễn cũng tổ chức nhiều đội khai hoang lập đinh điền ở nhiều nơi. Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tân đã lập đồn Tân Mỹ và đặt dinh Tần Thuận để quản lý trông nom. Cuối thế kỷ XVII người Việt ở đồng bằng Ðồng Nai và Cửu Long có khoảng 15 vạn. Năm 1714 đã đến đông ở Hà Tiên, năm 1735 đến Kiên Giang Cà Mau, năm 1757 mới hoàn thành định cư vùng Tầm Phong Long, Trà Vinh, Sóc Trăng. Họ Phan cũng có nhiều người theo dòng người vào thời kỳ này, nhưng chỉ truyền miệng mà chưa có phả hệ trình bày.
Dưới triều Nguyễn từ vua Gia Long đến vua Tự Ðức, công cuộc di dân lập ấp vào miền Nam được khuyến khích. Theo thống kê vào cuối triều vua Gia Long (1819) số dân đinh ở Nam Bộ là 97.100 người.
Ðồng thời với số người di cư khẩn đất từ triều Nguyễn Gia Long đến Tự Ðức, họ Phan cũng vào khá đông, có mặt hầu hết các tỉnh Nam Bộ ngày nay, nhưng đa số tộc phả không có chỉ qua truyền miệng mà nhiều chi phái cũng nói tổ tiên vào đây cách 6,7 đời, nếu tính mỗi đời cách nhau khoảng 25 năm thì tổ tiên vào đây cũng cách nay khoảng 150 năm đến gần 200 năm tức là vào khoảng triều vua Nguyễn nói trên (Gia Long 1802-1819, Minh Mạng 1820-1841, Thiệu Trị 1841-1847, Tự Ðức 1848-1883). Có nhiều chi phái làm ăn thịnh vượng, có chi đông đến 200-300 người và cũng đã sản sinh nhiều nhà yêu nước, khoa bảng có tên tuổi, nhất là vào thời Pháp xâm lược Nam Bộ như: Phan Thanh Giản (1796-1867) Tiến sĩ với hai con Phan Tôn, Phan Liêm; Phan Công Tông (1818-1867); Phan Văn Trị (1830 - 1910); Phan Văn Ðạt (1828-1861); Phan Văn Hớn (....- 1886); Phan Phát Sanh (1893-1916); Phan Ngọc Hiển (1910-1941).
Như vậy, cùng với sự chuyển cư của dòng họ Phan nói chung, dòng họ Phan trên đất Hà Tĩnh cũng có nhiều biến động. Nếu lần tìm theo lịch sử, theo con đường hành tiến vào Nam, dòng họ Phan Hà Tĩnh là đất trung chuyển, vừa là nơi phát sinh ra các chi phái ở những vùng đất khác vừa lại là nơi tiếp nhận dòng họ Phan có gốc gác ở tỉnh khác. Ví dụ như họ Phan Tùng Mai với vị thuỷ tổ là Phan Hách ( 1280 ) thuộc thế kỷ XIII, là một trong những dòng họ Phan lâu đời ở Hà Tĩnh vốn có gốc ở Thanh Hoá đã sinh ra nhiều chi phái khác trong nước và trong tỉnh ( con cháu có Phan Phù Tiên ở Hà Nội, Phan Viết Bao, Phan Viết Nội ở Thừa Thiên Huế.... Ngược lại, dòng họ Thuỷ tổ Phan Vân gốc ở Yên Thành – Nghệ An lại có nhiều chi phái và con cháu khá đông đúc trên đất Hà Tĩnh ( Nghi Xuân, TX Hồng Lĩnh, Can Lộc, Đức Thọ, Thạch Hà)….
Trên địa bàn Hà Tĩnh, theo thống kê sơ bộ ban đầu, con cháu họ Phan có mặt hầu hết ở các huyện, thị, thành trong tỉnh. Gần 300 Chi họ Phan đăng ký làm thành viên của Hội đồng Phan tộc Hà Tĩnh, trong đó có nhiều Chi họ vốn có quan hệ huyết thống, gần gũi với nhau. Có những chi phái lâu đời như họ Phan Tùng Mai đã có gần 30 đời và hình thành nhiều chi phái có nhà thờ riêng ở các địa bàn khác nhau. Cũng có chi phái mới chỉ dăm bảy đời mặc dù đã có từ đường riêng nhưng chưa kết nối lần tìm được nguồn cội xa hơn. Tình trạng gia phả của các dòng họ đa phần đều còn sơ sài, một số còn giữ được bản gốc chữ Hán do cha ông để lại nhưng chưa được dịch hoặc đã được dịch nhưng chưa đầy đủ. Một số gia phả mới được hình thành dựa trên sự nhớ lại của các vị cao niên nên độ chính xác không cao, hoặc mới được xây dựng nên chỉ phản ánh được những thế hệ con cháu sau này.
Gần đây, sự chuyển cư của dòng họ lại diễn đa dạng và phức tạp hơn. Do thiên tai, địch hoạ, do yêu cầu công tác và nhu cầu lập nghiệp làm ăn, con cháu họ Phan gốc Hà Tĩnh đã ra Bắc, vào Nam và gần như có mặt ở hầu hết ở các vùng miền khác trong cả nước, hình thành những tiểu chi phái mà có nơi mới chỉ dăm ba đời. Đa phần, con cháu trong dòng họ chuyển chỗ định cư ở những miền quê khác trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đang giữ mối liên hệ hết sức bền chặt và luôn có những nghĩa cử thể hiện trách nhiệm lớn đối với quê cha đất tổ, với quê hương, dòng họ
Dựa theo sách Họ Phan trọng cộng đồng dân tộc Việt Nam